Khí thải Formosa: Khi nào công khai kết quả quan trắc?

https://baotiengdan.com/2018/09/20/khi-thai-formosa-khi-nao-cong-khai-ket-qua-quan-trac/

Khí thải Formosa: Khi nào công khai kết quả quan trắc?

FB Nguyễn Anh Tuấn

20-9-2018

Đầu năm nay, Formosa Hà Tĩnh tuyên bố sẽ tăng gấp đôi công suất [1], hàng quán phục vụ khách Trung Quốc ở phố thị Kỳ Anh theo ghi nhận đã nhộn nhịp trở lại. Cùng lúc đó, một số hộ dân sống xung quanh nhà máy bắt đầu lo lắng cho sức khoẻ của gia đình nên đã dần chuyển đi.

Chính Báo cáo Tác động Môi trường (DTM) của Formosa cũng thừa nhận ngay từ giai đoạn 1 lượng bụi phát sinh sẽ cực lớn và “nếu không có hệ thống xử lý, bụi sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe công nhân làm việc trong nhà máy và khu dân cư lân cận. Các hạt bụi nhỏ có kích thước nhỏ thâm nhập vào người qua đường hô hấp, gây VIÊM PHẾ QUẢN MÃN TÍNH, UNG THƯ PHỔI, VIÊM GIÁC MẠC”[2]. Khí thải có thể không gây ra kết quả nhãn tiền (cá chết chẳng hạn) như nước thải, song hậu quả đối với sức khoẻ con người thì không hề kém cạnh, nếu không muốn nói là còn nghiêm trọng hơn.

Thực tế là số ca mắc ung thư ở các làng vùng Chương Hoá, Vân Lâm nơi Formosa đặt nhà máy bên Đài Loan đã tăng đột biến nhiều lần chỉ vài năm sau khi nhà máy đi vào vận hành và cư dân được tái định cư bên ngoài vòng bán kính 10km từ các nhà máy này. [Trong khi ở Kỳ Anh vẫn còn quá nhiều hộ dân sống sát tường rào nhà máy, các khu tái định cư Kỳ Phương, Kỳ Liên lẽ ra phải được chuyển ra xa thì lại đặt sát vách Formosa]

Dĩ nhiên Formosa Hà Tĩnh có hệ thống xử lý khí thải của họ, song hiệu quả đến đâu thì cần được kiểm chứng bằng các máy quan trắc chất lượng không khí. Việc giám sát này đòi hỏi phải độc lập; và trong trường hợp một tập đoàn tai tiếng như Formosa thì ai cũng hiểu là nhu cầu này càng bức thiết.

Vậy mà hiện nay chính quyền lại cho phép chính Formosa lắp đặt thiết bị quan trắc này ở khu vực phát khí thải và truyền số liệu về Sở TN-MT Hà Tĩnh. Nghĩa là chỉ Formosa và chính quyền Hà Tĩnh biết với nhau kết quả quan trắc, trong vòng bí mật. [3]

Tháng 11/2017 lần đầu tiên Sở TN-MT Hà Tĩnh, trong một công văn báo cáo lên Bộ TN-MT, đã tiết lộ Formosa xả khí thải vượt ngưỡng nhiều lần để rồi từ đó báo chí vào cuộc phát hiện ra Bộ TN-MT từ năm 2014 đã ra văn bản ‘cá biệt’ đặc cách cho Formosa xả thải vượt chuẩn.[4]

Câu hỏi là nếu có lúc nào đó Formosa vẫn xả vượt chuẩn mà Sở TN-MT Hà Tĩnh không thông báo thì thế nào? Có khó gì đâu việc công khai kết quả đo quan trắc lên Internet để dân vào giám sát như chính Đài Loan đang làm? [5]

Thêm nữa, thiết bị quan trắc đâu có đắt đỏ đến mức chính quyền cần Formosa lắp đặt, sao không tự lắp đặt để đảm bảo tính cách độc lập của việc giám sát nhà nước?

Ngoài ra, hiện chỉ mới có thiết bị quan trắc ngay trong khu vực nhà máy, trong khi theo các chuyên gia còn cần phải đo chất lượng không khí ở khu vực dân cư xung quanh vì điều này ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của người dân.

Ở Đài Loan các tổ chức dân sự đã lắp đặt không ít các máy quan trắc độc lập trong vùng dân cư xung quanh nhà máy Formosa, công bố kết quả để đối chứng với hệ thống quan trắc của chính quyền. Với sự thù nghịch nhắm tới xã hội dân sự hiện nay, rất khó để chính quyền chấp nhận những sáng kiến dân sự như vậy. Không tin vào giám sát cộng đồng lại để chính đối tượng – Formosa – nắm đằng chuôi của quá trình giám sát, chính quyền đang tự cho thấy tuyên bố ‘không đổi môi trường lấy tăng trưởng’ của họ chỉ là lời đầu môi chót lưỡi.

Tóm lại, ba việc cần làm hiện nay là (1) kiểm soát toàn bộ quá trình quan trắc khí thải trong nhà máy chứ không giao cho Formosa, (2) công khai kết quả quan trắc bên trong và xung quanh nhà máy 24/7 online (thời gian thực/in real time) cho công chúng và báo chí tiếp cận, và (3) khuyến khích các tổ chức dân sự lắp đặt thêm máy quan trắc độc lập để đối chiếu kết quả, có sai khác là các bên liên quan vào cuộc ngay. Chẳng việc nào khó cả nếu thực tâm.

Chính quyền đã phạm nhiều sai lầm dẫn đến thảm hoạ Formosa hai năm trước đây. Nếu không hành động ngay họ có thể sẽ đứng trước một thảm cảnh mới trong một ngày không xa.

Kỳ Anh ngày 19/9/2018

____
[1] https://nguoidothi.net.vn/formosa-ha-tinh-se-tang-gap-doi-cong-suat-luyen-thep-12369.html
[2] https://m.vov.vn/xa-hoi/formosa-sap-van-hanh-thu-6-ong-khoi-phat-tan-khi-thai-ra-moi-truong-539598.vov
[3] https://amp.vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/ha-tinh-yeu-cau-formosa-lap-thiet-bi-quan-trac-tu-dong-khi-thai-3416253.html
[4] https://www.tienphong.vn/xa-hoi/bo-tnmt-dac-cach-cho-formosa-xa-thai-vuot-chuan-1211171.amp.tpo
[5] https://taqm.epa.gov.tw/taqm/en/

Đây mới là luận điệu phản động!

https://baotiengdan.com/2018/09/20/day-moi-la-luan-dieu-phan-dong/

Đây mới là luận điệu phản động!

Mạc Văn Trang

20-9-2018

Hôm mới đây, tôi đăng lên Facebook Stt “Những đứa con hoang”? Có nhiều bạn vào bình luận. Trong đó có bạn Lâm Chí Dĩnh còm rất hăng, cà khịa với nhiều người… Giọng điệu của bạn ấy rõ là Lực lượng 47 hay DLV có hạng, cậu ta khoe: “Binh Phan ơn Đảng, mỗi tháng mình cũng kiếm được 20 triệu đồng Việt Nam, đủ tiền uống rượu quê, hút thuốc lào, hội hè đủ chi, bạn bè thoải mái”. Vậy là lương cao hơn giáo sư chứ bỡn!

Cậu ta huấn thị mình: Mac Văn Trang: Bác càng làm trò càng khiến cho người hiểu biết coi thường thôi. Bác đừng bao đồng những vấn đề không liên quan tới khả năng chuyên môn của bác thì sẽ có ích cho xã hội hơn nhiều. Đừng bắt chước con cá leo cây, kì lắm”! Cá nhân mình, chả quan trọng gì. Nhưng truyền thống dân tộc ta là: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, kia mà. Vậy mà cậu ta muốn mọi người cứ im lặng? Hơi bị phản động!

Rồi cậu ta dám viết: Trong Nhan Nguyen Các bậc trí giả xưa không tham chính được thì đều lui về ở ẩn, sinh thời không hợp thời thì chớ có mang cái trí suông ra mà tự/bất mãn. Người có tâm – trí – dũng không ai là không tự biết mình trước”.

Câu này thì rất phản động. Không nói chuyện lịch sử xa xưa, chỉ nói cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Các cụ đều “KHÔNG THAM CHÍNH ĐƯỢC” nhưng đều không “LUI VỀ Ở ẨN”. Các cụ ra sức tuyên truyền, vận động, giác ngộ dân chúng, tập hợp trí thức, dấy lên các phong trào, mong làm sao “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, cho đất nước thoát cảnh “Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu”… Các cụ bao phen bị tù tội, đọa đầy, nhưng không hề nản chí. Vậy mà cậu ta phê các Cụ: “sinh thời không hợp thời thì chớ có mang cái trí suông ra mà tự/bất mãn. Người có tâm – trí – dũng không ai là không tự biết mình trước. Láo thế là cùng!

Cậu ta khoe ăn lương của Đảng 20 triệu VNĐ /1 tháng, mà không biết rằng các tiền bối CS: Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp v.v… đều là “KHÔNG THAM CHÍNH ĐƯỢC” và đều không chịu “LUI VỀ Ở ẨN”, cứ “MANG CÁI CHÍ SUÔNG RA MÀ TỰ/BẤT MÃN”… đi làm toàn những “CHUYỆN BAO ĐỒNG”, “BẮT CHƯỚC CON CÁ LEO CÂY” (?)… Thật là luận điệu đại phản động!

Rồi cậu ta còn “lý luận” thế này mới kinh: “Tập thể không sai khi cá nhân không ngu dốt, tập thể chỉ có thành tựu khi cá nhân trong đó đoàn kết hoặc kiệt xuất. ‘Quần chúng chỉ là dãy số 0 vô tận’ – Napoleon. Tóm lại trong lịch sử và hiện nay thì quyền lực đang thuộc về những tập thể có nhiều ưu việt hơn, muốn thay đổi thì cái cần làm là phải biết vị trí của mình ở đâu, phải khắc phục chính mình chứ không phải chờ đợi người khác thay đổi. Đừng chỉ có mơ mộng và chỉ trích – đó là những việc của trẻ con”.

“QUẦN CHÚNG CHỈ LÀ DÃY SỐ KHÔNG (0) VÔ TẬN” (?) là luận điệu cực kỳ phản động! Truyền thống của dân tộc ta xưa nay DÂN LÀ GỐC. Nguyễn Trãi từng kết luận: “Đẩy thuyền là Dân, lật thuyền cũng là Dân”. Cụ Hồ nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của Nhân dân”; “có dân là có tất cả”, “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”; “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng”…

Còn Đảng CSVN thì bất cứ việc gì cũng phải “dựa vào quần chúng”, “Phát động phong trào quần chúng”; cái gì quan trọng cũng phải có chữ “NHÂN DÂN”: Chính quyền Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, Tòa án nhân dân… (Chỉ có mỗi Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước thôi).

Thế là Đảng CS tốn cơm nuôi cậu Dĩnh này, khác gì “nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà”, rặt tuyên truyền luận điệu phản động thôi! Tại sao “đội quân xung kích trên mặt trận tuyên truyền” lại thành phản động? Bởi vì họ không xuất phát từ chân lý, chính nghĩa, lẽ phải, mà chuyên “nói lấy được”, ngụy biện, “cả vú lấp miệng em”; họ chuyên dùng các xảo thuật, khi thì dụ dỗ rẻ tiền; khi thì dùng lời lẽ thô bỉ, hăm dọa người yếu bóng vía…

Tóm lại, Đảng CS dùng lực lượng 47, DLV hay “Thanh niên cờ đỏ” để chống lại những phản ứng lành mạnh của nhân dân, chỉ là “gậy ông đập lưng ông”, “Tiền mất, tật mang”!

Chỉ có xây dựng một Xã hội Dân sự, tôn trọng, lắng nghe ý kiến đa chiều của các tổ chức và cá nhân; qua hoạt động thực tiễn, xã hội sẽ sàng lọc, hình thành nên một văn hóa thông tin xã hội lành mạnh, dân chủ, văn minh…

Lố bịch

https://baotiengdan.com/2018/09/19/lo-bich/

Lố bịch

Bởi
AdminTD

19/09/2018

FB Từ Thức

19-9-2018

Phó Chủ tịch TP Hà Nội, ông Ngô Văn Quý và lãnh đạo Sở Y tế Hà Nội đến Bệnh viện Bạch Mai thăm bệnh nhân bị sốc ma túy. Bức ảnh này đã bị kiểm duyệt, hiện bị gỡ bỏ khỏi các tờ báo mạng.

Một ông phó chủ tịch dẫn bầu đoàn thê tử đứng chắp tay trước một bệnh nhân trong bệnh viện là một hình ảnh lố bịch. Lố bịch như hầu hết những thái độ, hành động của một đám sâu bọ lên làm người. Tệ hơn nữa, lên lãnh đạo người.

Nó lố bịch bởi vì cùng một lúc, hàng trăm ngàn người bệnh nặng, thập tử nhất sinh, nằm la liệt trong sân, trong vườn, dưới gầm giường tại các bệnh, không ai đoái hoài tới.

Nó lố bịch, bởi vì đại diện dân kéo một bầy tới thăm nạn nhân một buổi trình diễn văn nghệ, trong khi đánh vỡ đầu, bể mặt những người tham dự một buổi văn nghệ khác.

Đả kích cái lố bịch của một bọn làm “chính trị”, đúng hơn là làm bẩn chính trị là chuyện dễ hiểu, nhưng từ đó, thoá mạ những người nghiện ngập có cái gì bất nhẫn.

Thiếu nữ nằm trên giuờng bệnh chỉ là nạn nhân, bị chúng nó dựng dậy, tặng tiền, chắp tay, mặt mũi rầu rĩ để chụp hình, quay phim.

Cũng như chúng dựng một người đang vật lộn với cái chết dậy, trao bằng khen để chụp hình, quay phim.

Cũng như chúng cho công an ủi quần áo, chải đầu tóc gọn gàng, bảnh bao, nhẩy xuống sông, sâu tới đầu gối, để quay phim chiến sĩ cứu đàn bà lâm nạn.

Trên mạng, nhiều người chửi rủa thậm tệ, cầu trời cho “bọn xì ke, ma tuý chết hết để khỏi làm bẩn xã hội”. Quên rằng cái làm bẩn xã hội, khiến cả một thế hệ trẻ lao đầu vào rượu chè, ma túy là một chế độ thối nát, bất nhân.

Nhiều người rơi vào ma túy, nghiện ngậm vì thất nghiệp, vì đói khổ, và nhất là vì không có một chút hy vọng gì ở tương lai. Thực tại khó khăn có thể vượt qua, nhưng tương lai mù mịt, đen tối, vô vọng dẫn tới những chọn lựa tuyệt vọng.

Tại bất cứ xã hội văn minh nào, người ta tìm hiểu, tìm cách giúp đỡ để những người nghiện ngập ra khỏi địa ngục. Đó là một ưu tiên quốc gia. Việt Nam, như tất cả các nước độc tài, không có một chính sách gì. Trái lại, chế độ khuyến khích, hay ít nhất để tự do cho lớp trẻ tự hủy, để tạo một thế hệ bạc nhược.

Chế độ độc tài sinh ra trên rác rưởi, tồn tại trên sự bạc nhược của người dân. Bạc nhược thể xác, bạc nhược tinh thần.

Khi người nghiện ngập tạo một hình ảnh nhơ nhuốc cho chế độ, người ta bắt nhốt, tập trung những nạn nhân. Không phải để giúp đỡ, để chữa trị, nhưng để hành hạ dã man. Vụ nổi loạn gần đây của những trại tập trung người nghiện ngập là một bằng chứng.

Thay vì thoá mạ độc ác, hãy nghĩ những người nghiện ngập cũng chỉ là nạn nhân như mình. Thân phận còn bi đát hơn mình. Đừng lẫn lộn nạn nhân với thủ phạm. Đừng trút hết cái căm hờn, cái giận dữ trên đầu người yếu hơn mình, khổ hơn mình.

Lãnh đạo “chép bài” và giới trẻ “ngáo đá”

https://baotiengdan.com/2018/09/19/lanh-dao-chep-bai-va-gioi-tre-ngao-da/

Lãnh đạo “chép bài” và giới trẻ “ngáo đá”

FB Lê Ngọc Sơn

19-9-2018

Một lễ hội âm nhạc cho giới trẻ mà có 7 nhân mạng ở tuổi mơn mởn ra đi vì lý do dùng ma tuý, thuốc lắc, đó là một thảm hoạ. Nhưng chuyến thăm của Phó Chủ tịch Hà Nội Ngô Văn Quý đến các cháu “đập/ cắn/ ngáo đá” may mắn còn giữ được mạng, là một thảm hoạ khác về xử lý khủng hoảng, khiến người ta cười ra nước mắt.

Ông Phó Thị trưởng hẳn hồi đi học hay chép trộm bài của bạn. Sở dĩ nghi rằng ông có thói quen chép trộm bài của bạn vì hành động lười tư duy của ông “tố” chính chủ.

Có lẽ, trước đến nay, hễ có sự cố gì là lãnh đạo đến uý lạo người bị hại. Việc này trong quản trị khủng hoảng, người ta gọi là thủ pháp “Supportive Rituals” (tạm dịch: những lễ nghi tương trợ) để góp phần giải quyết khủng hoảng. Thứ nhất, đảm bảo duy trì tính chính danh của chính quyền: Ý là, à, sự cố dù lớn mấy cũng có chính quyền đây. Thứ hai, vừa mang tính uý lạo tinh thần đám đông, chính nghĩa luôn được ủng hộ và giành phần thắng. Một mặt khác của việc “đến thăm” là góp phần làm cho hình ảnh của chính trị gia và chính quyền (ở đây là Thủ đô) được đánh bóng, kiểu chúng tôi đây là vì dân lắm.

Những “supportive rituals” này thường mang tính lan toả, và là “tấm gương dẫn đạo”.

Ông Phó Thị trưởng “luộc nguyên con”, “chép nguyên bài”, mà không hiểu sâu xa mô tê về ý nghĩa của các lễ nghi tương trợ (supportive rituals), làm cho việc giải quyết khủng hoảng trở nên tệ đi.

Vậy cách giải quyết đúng trong trường hợp trên là gì?

(1) Chính quyền thành phố họp báo ngay lập tức công bố điều gì đã và đang diễn ra, nỗ lực của thành phố hiện tại là…

(2) Thay vì đến thăm các “thanh niên đập đá tích cực”, thì ngay lập tức áp dụng bài “Chiếc đầu Vương Hậu” – lôi ai đó ra chịu trách nhiệm, vì 7 người chết không phải là chuyện nhỏ. Trong trường hợp này, Vương Hậu có thể là Chủ tịch quận Tây Hồ (nơi diễn ra sự kiện), hoặc Giám đốc hoặc Phó Giám đốc Sở Văn hoá Thể thao Du lịch Hà Nội (nơi cấp phép).

(Bạn trẻ nào muốn biết chiêu “Chiếc đầu Vương Hậu” xin đọc lại câu chuyện Tào Tháo xử lý chuyện hết kho lương, trong Tam Quốc Chí).

(3) Thay đổi về mặt chính sách (a) quản lý và kiểm soát chất ma tuý, (b) các sự kiện biểu diễn thu hút đông người, theo hướng cấp tiến, sáng tạo. (Muốn được khen thì phải nhấn ở điểm này. Đây là thấy “cơ” trong “nguy” để ghi điểm, và nâng cao hiệu quả quản trị xã hội trên địa bàn). Chứ không phải không quản được thì cấm. “Cấm” trong trường hợp này là hành vi bất lực về năng lực chính sách, lúc đó sẽ bị chê trách hơn.

Tóm lại là, không nên dùng những lãnh đạo có thói quen “chép bài” hồi đi học, não để làm hàng, sẽ tác dụng ngược.

Bức ảnh hay nhất năm 2018 về mối quan hệ giữa hai nước Đức – Việt

https://baotiengdan.com/2018/09/20/buc-anh-hay-nhat-nam-2018-ve-moi-quan-he-giua-hai-nuoc-duc-viet/

Bức ảnh hay nhất năm 2018 về mối quan hệ giữa hai nước Đức – Việt

Hiếu Bá Linh

20-9-2018

Hơn 9 tháng đã trôi qua và buổi lễ kỷ niệm Quốc khánh tối hôm qua (18/9/2018) tại Berlin có dấu hiệu nào cho thấy quan hệ giữa 2 nước Đức-Việt đã được hàn gắn, đã trở lại bình thường chưa? Hay là vẫn còn đang “đóng băng”? Thực trạng mối quan hệ giữa hai nước Đức – Việt hiện nay như thế nào?

Hôm qua ngày 18/9/2018 Đại sứ quán Việt Nam tại CHLB Đức tổ chức lễ kỷ niệm 73 năm Quốc khánh CHXHCN Việt Nam. Buổi lễ được tổ chức vào buổi tối tại khách sạn sang trọng Maritim ở trung tâm Berlin. Đại sứ Đoàn Xuân Hưng đã nỗ lực dồn hết sức mình, huy động hầu hết các nhân viên ĐSQ tổ chức buổi lễ này, vì đây là buổi tổ chức cuối cùng trước khi hết nhiệm kỳ về nước.

Có khoảng 400 trăm khách Đức và Việt tham dự. Điểm đáng chú ý là tất cả các nhân viên Đại sứ quán tham gia vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh có tên trong hồ sơ điều tra của Đức đã không xuất hiện tại buổi lễ Quốc khánh tối hôm qua, như Lê Thanh Hải (Sĩ quan liên lạc), Lê Đức Trung và Lê Thị Thu.

Buổi lễ này cũng là dịp để đo “nhiệt độ” mối quan hệ giữa 2 nước Đức-Việt hiện nay ra sao? Chính phủ Đức cử đại diện cấp bậc nào đến tham dự? Cấp bậc và chức vụ ít nhiều cũng nói lên thực trạng mối quan hệ giữa hai nước Đức – Việt. Thí dụ như Quốc khánh năm 2016, trước khi vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh xảy ra, khi quan hệ giữa 2 nước còn “nồng ấm”, thì chính phủ Đức đã cử bà Edelgard Bulmahn, Phó Chủ tịch Quốc hội Liên Bang Đức, đến tham dự lễ kỷ niệm Quốc khánh.

Bà Edelgard Bulmahn, Phó Chủ tịch Quốc hội CHLB Đức, trong buổi lễ Quốc khánh năm 2016 tại Berlin. Ảnh: Thế giới & VN

Đầu tháng 7 vừa qua, Tham tán công sứ ĐSQ Việt Nam tại Đức Nguyễn Hữu Trángcho biết: “Chính phủ hai nước (Đức-Việt) từ cuối năm ngoái, từ cuối tháng 12 năm ngoái (2017) đã có thỏa thuận lộ trình xử lý vấn đề này, để đưa quan hệ hai nước trở lại bình thường”.

Như vậy hơn 9 tháng đã trôi qua và buổi lễ kỷ niệm Quốc khánh tối hôm qua (18/9/2018) tại Berlin có dấu hiệu nào cho thấy quan hệ 2 nước Đức-Việt được hàn gắn, đã trở lại bình thường hay chưa?

Trước vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh xảy ra, khi quan hệ ngoại giao đối tác chiến lược chưa bị phía Đức đình chỉ và quan chức Việt Nam mang hộ chiếu ngoại giao vẫn còn được miễn visa nhập cảnh vào Đức, Quốc khánh năm 2015 tại Berlin có sự tham dự của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn từ trong nước được cử sang.

Thứ trưởng BNG Bùi Thanh Sơn đứng cạnh Đại sứ Nguyễn Thị Hoàng Anh tại lễ Quốc khánh năm 2016 ở Berlin. Ảnh trên mạng

Bức ảnh chụp trong buổi lễ kỷ niệm Quốc khánh tối hôm qua (18/9/2018) tại Berlin đã “nói lên” điều gì về quan hệ giữa hai nước Đức – Việt hiện nay? Mối quan hệ này có được phục hồi trở lại bình thường hay chưa? Hay là vẫn còn đang “đóng băng”?

– Chức vụ của bà Ina Lepel chỉ là Vụ trưởng châu Á-Thái Bình Dương trong Bộ Ngoại giao Đức. Như vậy chính phủ Đức chỉ cử một đại diện cấp thấp với chức vụ “Abteilungsleiterin” (Trưởng phòng hay Vụ trưởng) đến tham dự một Quốc Lễ của Việt Nam.

– Trong buổi lễ, sau khi Đại sứ Đoàn Xuân Hưng đọc diễn văn khai mạc, bà Ina Lepel đại diện chính phủ Đức đã đọc một bài diễn văn chào mừng. Trong bức ảnh, sau lưng bà Vụ trưởng vẫn còn bản dịch phần kết của bài diễn văn: “Tôi hy vọng trong thời gian tới … quan hệ song phương được phục hồi …”.

Vậy là bà Ina Lepel đại diện chính phủ Đức đã gián tiếp xác nhận rằng quan hệ giữa 2 nước Đức – Việt hiện nay vẫn chưa được phục hồi.

– Không có một quan chức nào từ trong nước được cử sang tham dự lễ Quốc khánh tối hôm qua tại Berlin. Đáng chú ý là vào cuối tháng 7 vừa qua, báo Frankfurter Allgemeine, nhật báo có tầm vóc liên bang và uy tín đứng hàng đầu nước Đức, trong một bài báo đã đưa ra một chi tiết liên quan đến việc bình thường hóa quan hệ giữa 2 nước: “Trong tháng 9 sắp tới đây, một Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam sẽ đến thăm Berlin. Đây là thao diễn giảm căng thẳng lần đầu tiên kể từ khi vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh xảy ra”.

Nhưng cuối cùng không có một Thứ trưởng Ngoại giao nào đến thăm Berlin và dự lễ Quốc khánh.

Không có hình tượng nào lột tả được thực trạng mối quan hệ hai nước hiện nay hay hơn là hình tượng Đại sứ Đoàn Xuân Hưng chìa tay ra, muốn bắt tay bà Ina Lepel đại diện chính phủ Đức, nhưng bà Ina Lepel vẫn khư khư giữ chặt túi xách.

Nếu có một cuộc thi bình chọn, thì chắc chắn bức ảnh này sẽ được chọn làm “Bức ảnh hay nhất năm 2018 về mối quan hệ giữa 2 nước Đức – Việt”.

Trung Quốc đang thua cuộc Chiến tranh Lạnh Mới

http://nghiencuuquocte.org/2018/09/20/trung-quoc-dang-thua-cuoc-chien-tranh-lanh-moi/

Trung Quốc đang thua cuộc Chiến tranh Lạnh Mới

Posted on 20/09/2018 by The Observer

Nguồn: Minxin Pei, “China is Losing the New Cold War”, Project Syndicate, 05/09/2018.

Biên dịch: Nguyễn Minh Khuê

Khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) trở nên bị ám ảnh với việc tìm hiểu nguyên nhân của sự kiện này. Các viện nghiên cứu của nhà nước quy trách nhiệm cho Mikhail Gorbachev, nhà lãnh đạo cải cách đơn giản là đã không đủ tàn nhẫn để giữ cho Liên Xô được toàn vẹn. Nhưng các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng nhấn mạnh các yếu tố quan trọng khác, nhưng không phải yếu tố nào cũng được các nhà lãnh đạo Trung Quốc chú ý đến ngày ngày nay.

Chắc chắn là ĐCSTQ đã nằm lòng bài học quan trọng đầu tiên: thành tích kinh tế mạnh mẽ là điều cần thiết cho tính chính danh của Đảng. Và việc ĐCSTQ tập trung thúc đẩy tăng trưởng GDP trong vài thập niên qua đã mang lại “phép màu kinh tế”, với thu nhập bình quân đầu người tăng vọt từ 333 đô la năm 1991 lên 7.329 đô la vào năm ngoái. Đây là lý do quan trọng nhất giúp ĐCSTQ giữ vững quyền lực.

Nhưng việc giám sát một nền kinh tế đang suy sụp không phải là sai lầm duy nhất mà các nhà lãnh đạo Liên Xô gặp phải. Họ còn bị kéo vào một cuộc chạy đua vũ trang tốn kém và không thể thắng nổi với Hoa Kỳ, và trở thành nạn nhân của việc dàn trải sức mạnh quá mức, ném tiền và tài nguyên cho các chế độ ít giá trị chiến lược và nổi tiếng về quản lý kinh tế yếu kém. Khi Trung Quốc bước vào một “cuộc Chiến tranh Lạnh” mới với Mỹ, ĐCSTQ dường như có nguy cơ lặp lại những sai lầm thảm khốc tương tự.

Thoạt nhìn, có vẻ như Trung Quốc không thực sự đang tham gia vào một cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ. Xét cho cùng, ngân sách quốc phòng chính thức của Trung Quốc trong năm nay – khoảng 175 tỷ đô la – chỉ bằng một phần tư ngân sách 700 tỷ đô la được Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn. Nhưng chi tiêu quân sự thực tế của Trung Quốc được ước tính cao hơn nhiều so với ngân sách chính thức: Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm, Trung Quốc chi 228 tỷ USD cho quân đội vào năm ngoái, bằng khoảng 150% so với con số chính thức là 151 tỷ USD.

Dù sao đi nữa thì vấn đề không phải là số tiền Trung Quốc chi cho vũ khí, mà là sự gia tăng chi tiêu quân sự nhất quán, điều ngụ ý rằng đất nước đang chuẩn bị tham gia vào một cuộc chiến tranh tiêu hao lâu dài với Mỹ. Tuy nhiên, nền kinh tế của Trung Quốc không được trang bị để tạo ra đủ nguồn lực nhằm hỗ trợ mức chi tiêu giúp mang lại chiến thắng trên mặt trận này.

Nếu Trung Quốc có một mô hình tăng trưởng bền vững làm nền tảng cho một nền kinh tế hiệu quả cao, nó có thể đủ khả năng để duy trì một cuộc chạy đua vũ trang vừa phải với Hoa Kỳ. Nhưng Trung Quốc không có cả hai.

Ở cấp độ vĩ mô, tăng trưởng của Trung Quốc có thể tiếp tục giảm tốc do sự lão hóa dân số nhanh chóng, mức nợ cao, sự chênh lệch thời điểm đáo hạn của tài sản và nợ (maturity mismatch) và cuộc chiến thương mại leo thang mà Hoa Kỳ đã khởi xướng. Tất cả điều này sẽ làm cạn kiệt nguồn tài nguyên hạn chế của ĐCSTQ. Ví dụ, khi tỷ lệ phụ thuộc của người già tăng lên, chi phí chăm sóc sức khỏe và lương hưu cũng sẽ tăng lên.

Hơn nữa, trong khi nền kinh tế Trung Quốc có thể hiệu quả hơn nhiều so với nền kinh tế của Liên Xô, nó lại không hiệu quả bằng nền kinh tế Mỹ. Lý do chính cho điều này là ảnh hưởng kéo dài của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) của Trung Quốc, vốn chiếm một nửa tổng tín dụng ngân hàng toàn quốc nhưng chỉ đóng góp 20% giá trị gia tăng và việc làm.

Vấn đề của ĐCSTQ là DNNN đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì chế độ độc đảng vì chúng được sử dụng để khen thưởng cho những người trung thành và tạo điều kiện cho sự can thiệp của chính phủ nhân danh các mục tiêu kinh tế vĩ mô chính thức. Việc loại bỏ những công ty cồng kềnh và không hiệu quả này sẽ là một hành động tự sát chính trị. Tuy nhiên, việc bảo vệ các doanh nghiệp này có thể chỉ trì hoãn một việc không thể tránh khỏi, bởi vì chúng càng được cho phép hút cạn các nguồn tài nguyên khan hiếm ra khỏi nền kinh tế bao nhiêu, thì cuộc đua chạy đua vũ trang với Hoa Kỳ sẽ càng trở nên khó đáp ứng – và thách thức đối với thẩm quyền của ĐCSTQ cũng trở nên ngày càng lớn.

Bài học thứ hai mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã không nắm được là sự cần thiết phải tránh sự dàn mỏng nguồn lực đế quốc. Khoảng một thập niên trước, với thặng dư thương mại lớn mang lại một nguồn ngoại tệ mạnh dồi dào, chính phủ Trung Quốc bắt đầu chấp nhận những cam kết tốn kém ở nước ngoài và trợ cấp cho các đồng minh đã “chết cứng”.

Ví dụ điển hình là Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) được ca ngợi lâu nay. Đây là một chương trình trị giá 1 nghìn tỷ đô la tập trung vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng dựa trên vay nợ tại các nước đang phát triển. Bất chấp những dấu hiệu vấn đề từ sớm – điều cùng với kinh nghiệm của Liên Xô cho thấy ĐCSTQ nên tạm dừng sáng kiến này – nhưng Trung Quốc dường như quyết tâm thúc đẩy BRI, điều đã được các nhà lãnh đạo đất nước biến thành một trụ cột cho “đại chiến lược” mới của họ.

Một ví dụ thậm chí còn nghiêm trọng hơn cho tình trạng dàn mỏng sức mạnh đế quốc là sự trợ giúp hào phóng của Trung Quốc đối với các nước – từ Campuchia đến Venezuela hay Nga – nhưng mang lại rất ít lợi ích. Theo dữ liệu AidData tại Trường Đại học William và Mary, từ năm 2000 đến năm 2014, Campuchia, Cameroon, Côte d’Ivoire, Cuba, Ethiopia và Zimbabwe đã nhận được tổng cộng 24,4 tỷ đô la viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi cao của Trung Quốc. Trong cùng giai đoạn đó, Angola, Lào, Pakistan, Nga, Turkmenistan và Venezuela đã nhận được 98,2 tỷ USD.

Bây giờ, Trung Quốc cam kết sẽ cung cấp 62 tỷ đô la các khoản vay cho “Hành lang Kinh tế Trung Quốc-Pakistan.” Chương trình đó sẽ giúp Pakistan đối mặt với cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán đang dần hiện hữu; nhưng nó cũng sẽ làm cạn kiện kho bạc của chính phủ Trung Quốc vào một thời điểm mà chủ nghĩa bảo hộ thương mại đang đe dọa nguồn cung ngoại tệ bổ sung cho nó.

Giống như Liên Xô, Trung Quốc đang vung tiền qua cửa sổ cho một vài quốc gia bạn bè để chỉ đạt được những lợi ích hạn chế trong khi ngày càng trở nên lún sâu vào một cuộc chạy đua vũ trang khó có thể duy trì. Cuộc Chiến tranh Lạnh Trung-Mỹ vừa mới bắt đầu nhưng Trung Quốc dường như đã trên đường trở thành người thua cuộc.

Minxin Pei (Bùi Mẫn Hân) là giáo sư ngành quản trị chính quyền tại Claremont McKenna College, và là nghiên cứu viên cao cấp không thường trú tại Quỹ German Marshall Fund of the United States.

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/7078-dan-quan-bien-trung-quoc-va-luat-phap-quoc-te

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Thứ sáu, 14 Tháng 9 2018 10:47

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Tóm tắt

Bài viết dựa trên các nghiên cứu gần đây về lực lượng dân quân biển Trung Quốc để phân tích một số quan ngại liên quan đến địa vị pháp lý cũng như các hoạt động của lực lượng này dưới góc độ luật pháp quốc tế. Thứ nhất, tác giả xác định cơ sở cho các nguyên tắc chung về nghĩa vụ và quyền lợi của nhà nước có lực lượng dân quân biển. Từ đó, bài viết xác định và áp dụng các nội dung chuyên sâu của luật quốc tế vào việc Trung Quốc sử dụng lực lượng dân quân biển, bao gồm luật biển, vấn đề sử dụng vũ lực của các quốc gia và luật hải chiến. Cuối cùng, bài viết đưa ra kết luận việc Trung Quốc sử dụng lực lượng dân quân biển dẫn đến các hậu quả và hệ luỵ tiềm tàng rất lớn trong luật pháp quốc tế. Về triển vọng tương lai, bài viết đưa ra một số khuyến nghị về lựa chọn chính sách mà các nước có thể xem xét trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý.

Các từ khoá

Lực lượng dân quân biển – Trung Quốc – trách nhiệm quốc gia – thẩm quyền – xem xét thích đáng – an toàn hàng hải – quốc gia có tàu mang cờ – sử dụng vũ lực – hải chiến – mục tiêu tấn công – người bị bắt giữ – bội tín

I. Giới thiệu

Điều gì sẽ xảy ra khi sự trùng hợp không đơn thuần chỉ là trùng hợp? Tuỳ thuộc vào các ngữ cảnh khác nhau, hiện tượng này có thể được miêu tả như là một phép nghịch biện, nghịch hợp hoặc đơn thuần là một tình huống đầy trớ trêu. Trên thực tế, có nhiều tình huống sẽ xảy ra theo hướng hoàn toàn khác với những gì chúng ta nhận thức ban đầu. Có thể lấy động thái và sự kiện diễn ra tại Biển Đông trong những năm gần đây làm ví dụ. Vào tháng 3 năm 2009, khi Tàu Hải Quân Impeccable (T-AGOS-23) tiến hành các hoạt động quân sự trên Biển Đông ở ngoài vùng lãnh hải của quốc gia ven biển, năm tàu chiến của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (PRC) đã áp sát và có hành động không an toàn xung quanh tàu Impeccable, nhằm cản trở hoặc ngăn chặn con tàu, bao gồm ba tàu của Chính phủ Trung Quốc và hai tàu cá mang cờ nước này. Chưa đầy một năm sau “sự kiện Impeccable” này, tác giả đã phát hành một bài báo phân tích các vấn đề pháp lý liên quan[1]. Khi nhắc đến việc cả tàu chính phủ và phi chính phủ của Trung Quốc tình cờ xuất hiện xung quanh tàu Impeccable ở cách bờ biển 75 dặm,[2] tác giả đã coi đây là một “sự trùng hợp khó tin”. Nhìn sự kiện này trong tổng thể diễn biến hiện nay trên Biển Đông, thế giới có thể thấy việc xuất hiện của các tàu cá Trung Quốc vào tháng Ba năm 2009 không chỉ là sự trùng hợp đơn thuần,[3] và một va chạm quốc tế liên quan tới các tàu như vậy không chỉ là một sự kiện bất thường. Hơn hai năm trước, Tiến sỹ Andrew Erickson và Tiến sỹ Conor Kennedy đã tiến hành một khảo sát đáng chú ý về vấn đề này. Đặc biệt, hai tác giả đã hé mở một loạt các thông tin về lực lượng dân quân biển Trung Quốc mà họ chủ yếu thu thập từ các trang web của Trung quốc đại lục. Rất may cho những người không biết tiếng Trung Quốc là Erikson và Kennedy cũng đã viết một loạt các bài báo bằng tiếng Anh nhằm phân tích và tổng hợp các thông tin chưa được công bố.[4] Các nghiên cứu và quan điểm của hai tác giả này cho thấy việc các tàu mang cờ Trung Quốc tham gia vào hoạt động không phải đánh cá trên Biển Đông, Biển Hoa Đông và Hoàng Hải mà thế giới đang thấy hiện nay không đơn thuần là sự trùng hợp hay tình cờ.

Học theo cách mà các nhà bình luận hay gọi việc sử dụng các lực lượng trên bộ không chính quy là “du kích trong sương mù”,[5] chúng ta cũng có thể mô tả việc sử dụng các lực lượng không chính quy trên biển là “du kích trong màn sương biển”. Tuy nhiên, dù cụm từ này nghe có vẻ hoa mỹ hay huyền bí thế nào, việc sử dụng lực lượng dân quân biển và các hành động kèm theo đó đều cần được xem xét một cách kỹ lưỡng. Vì vậy, khi một nhà nước lựa chọn dùng đến các lực lượng phi truyền thống của mình, cộng đồng quốc tế nên tìm cách giải mã các sự kiện liên quan tới các lực lượng này và các tác động có thể có. Trong trường hợp lực lượng dân quân tự vệ biển Trung Quốc, nghiên cứu của Erickson và Kennedy đã hé mở các sự kiện và phần lớn chỉ trả lời cho câu hỏi lực lượng này “là gì”. Tuy nhiên, việc trả lời cho câu hỏi “thế thì sao” đòi hỏi một nghiên cứu đa ngành hơn dựa trên các tài liệu chi tiết mà hai học giả này đã đưa ra. Vì việc sử dụng các lực lượng dân quân tự vệ biển của Trung Quốc có thể gây ảnh hưởng tới quan hệ quốc tế, bất kỳ khảo sát nào đối với vấn đề này nhằm trả lời câu hỏi “thế thì sao” cần được nhìn nhận dưới góc độ của luật pháp quốc tế.

It nhất đã có một nghiên cứu phân tích một số vấn đề pháp lý liên quan tới lực lượng dân quân biển của Trung Quốc trong giai đoạn chiến tranh,[6] các tác động pháp lý của lực lượng này có thể liên quan tới nhiều khía cạnh của luật pháp quốc tế, ở cả thời bình lẫn khi bùng phát xung đột trong tương lai. Vì vậy, nghiên cứu dưới đây sẽ phác họa và phân tích các quan ngại về mặt pháp lý đối với lực lượng dân quân biển Trung Quốc một cách toàn diện hơn. Bước đầu, bài nghiên cứu sẽ xác định cơ sở của các nguyên tắc chung căn cứ trên luật pháp quốc tế về nghĩa vụ và quyền lợi nhà nước. Tiếp theo đó, tác giả sẽ xác định và áp dụng ba khía cạnh của luật pháp quốc tế có thể liên quan tới việc sử dụng lực lượng dân quân biển của Trung Quốc. Các khía cạnh pháp luật này bao gồm luật biển, luật về sử dụng vũ lực của các nhà nước và luật hải chiến. Cuối cùng, bài nghiên cứu kết luận rằng, dưới góc độ luật pháp quốc tế, có nhiều hậu quả và hệ luỵ tiềm tàng nảy sinh từ việc Trung Quốc sử dụng lực lượng dân quân biển. Ngoài ra, bài viết sẽ đưa ra khuyến nghị về các hành động cụ thể mà các nước khác có thể cân nhắc thực hiện trong hiện tại và tương lai để giải quyết các vấn đề pháp lý cụ thể.

Để đánh giá hiệu quả các vấn đề pháp lý, từ đó rút ra các kết luận pháp lý, và đề xuất kiến nghị, việc nêu giới hạn của bài nghiên cứu ngay từ đầu là rất quan trọng. Đầu tiên và quan trọng nhất, các phân tích pháp lý dưới đây sẽ dựa trên giả định rằng tất cả các thông tin mà Erickson và Kennedy đưa ra cũng như tất cả các mô tả về sự kiện trong các bài báo mà họ đã xuất bản là hoàn toàn chính xác và đúng sự thật. Theo ngôn ngữ pháp lý, phân tích này sẽ cho rằng có những “sự kiện rõ ràng” và vì vậy sẽ chỉ tập trung vào xem xét các “câu hỏi pháp lý”. Bất kỳ thông tin nào được phát hiện ra là sai sự thật hoặc không chính xác vì bất kỳ lý do nào cũng sẽ tác động đến các phân tích pháp lý trong bài. Thứ hai, bài viết đồng ý rằng một nội dung chuyên ngành thứ tư của luật pháp quốc tế (ví dụ như luật về chủ quyền[7]) có thể được hàm ý trong việc sử dụng lực lượng dân quân biển của Trung Quốc, tuy nhiên vấn đề này sẽ được đề cập trong phân tích pháp lý ở một bài viết khác. Thứ ba, nghiên cứu sẽ chỉ tập trung chính vào các quan ngại pháp lý đối với lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và thảo luận một cách ngắn gọi về lực lượng cảnh sát biển nước này khi cần thiết. Mặc dù có thể có nhiều vấn đề liên quan tới luật pháp quốc tế xung quanh lực lượng cảnh sát biển, như một phần của chiến lược siêu hải quân của Trung Quốc, các phân tích chuyên sâu về các vấn đề pháp lý này sẽ được dành cho các nghiên cứu khác. Thứ tư, bài nghiên cứu sẽ tập trung chủ yếu vào các vấn đề pháp lý có thể nảy sinh từ luật pháp quốc tế. Các vấn đề luật pháp trong nước sẽ chỉ được đề cập trong trường hợp các nhà nước riêng lẻ cần phải bổ sung các nghĩa vụ điều ước vào trong hệ thống luật pháp nhà nước.

Thứ năm, mỗi nội dung luật pháp quốc tế được phân tích trong bài này có thể hoặc không được áp dụng cho một tình huống cụ thể liên quan tới lực lượng dân quân biển của Trung Quốc, phụ thuộc rằng liệu tình huống hoặc va chạm đó xuất hiện tại thời bình hay trong giai đoạn có xung đột vũ trang. Vì vậy, trình tự phân tích ba nội dung này của luật pháp quốc tế sẽ được tiến hành từ thời điểm hiện tại (hoà bình) cho tới tương lai khi xung đột vũ trang xảy ra, cùng với giai đoạn “vùng xám” ở giữa (điều mà tác giả đã mô tả là “ranh giới mơ hồ giữa hoà bình và chiến tranh”)[8].

II. Trách nhiệm quốc gia

Trước khi thảo luận và áp dụng các nội dung chuyên sâu của luật pháp quốc tế vào trường hợp lực lượng dân quân tự vệ trên biển Trung Quốc, việc có hiểu biết cơ bản về nghĩa vụ pháp lý của quốc gia trong quan hệ với các quốc gia khác là hết sức quan trọng.

Trong luật quốc tế, không có bất kỳ một hiệp định, công ước hay văn bản pháp luật đơn lẻ nào pháp điển hoá vấn đề trách nhiệm quốc gia. Thay vào đó, bản chất của ngành luật này là các quy phạm tập quán. Nội dung này chủ yếu được thể hiện trong các phán quyết của toà tại các cơ quan tài phán quốc tế như Toà án Công lý Quốc tế (ICJ) hay trong Các điều khoản về trách nhiệm quốc gia đối với các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế (trong bài viết sẽ viết tắt là ROSFIWA Artciles[9]) được Uỷ ban luật pháp quốc tế của Liên Hợp Quốc thông qua năm 2001 đi kèm với bình luận từng điều khoản một (từ đây sẽ gọi là Commentary ROSFIWA[10]). Khi khảo sát các nội dung chuyên ngành của luật quốc tế được thảo luận dưới đây, cần lưu ý Trung Quốc đã tham gia vào quá trình phát triển luật pháp quốc tế về quản trị trách nhiệm quốc gia. Cụ thể, Trung Quốc đã đề cử các thẩm phán nước mình phục vụ tại ICJ hàng thập kỷ liên tục trong suốt quá trình phát triển của cơ quan này[11], đồng thời, và chuyên gia luật pháp Trung Quốc làm việc tại Uỷ ban Luật quốc tế cũng có cơ hội đóng góp vào sự phát triển của các nguồn luật như như ROSFIWA Articles[12].

Câu hỏi quan trọng đầu tiên cần được đưa ra là: Trách nhiệm quốc gia chính xác là gì? Nhìn chung, các quốc gia riêng lẻ có “trách nhiệm quốc tế” đối với bất kỳ “hành vi trái với luật pháp quốc tế” nào mà mình đã thực hiện[13]. Bình luận điều 1 của ROSFIWA Articles giải thích thuật ngữ “trách nhiệm quốc tế” là “một quan hệ về mặt pháp lý mới nảy sinh trong luật quốc tế do sự xuất hiện một hành vi trái luật mà một quốc gia thực hiện”[14]. Không may, cách giải thích này có vẻ đã lặp lại nội dung điều khoản một cách không cần thiết. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, có ít nhất một toà trọng tài quốc tế đã đưa ra ý kiến về việc “mọi vi phạm của một quốc gia đối với nghĩa vụ quốc tế bất kỳ, bất kể nó xuất phát từ đâu, sẽ làm phát sinh trách nhiệm quốc gia”.[15]

Nếu mỗi quốc gia đều phải chịu trách nhiệm trước hành vi trái với luật pháp quốc tế, liệu những hành động nào sẽ được luật quốc tế coi là “của” quốc gia đó? ROSFIWA Articles đã tuyên bố cụ thể rằng một hành vi “trái với luật pháp quốc tế”, dù là hành động hoặc không hành động, khi thoả mãn hai nhân tố: (1) việc hành động hoặc không hành động đó “thuộc hành động của quốc gia căn cứ theo luật quốc tế” và (2) việc thực hiện hay không thực hiện hành vi này “cấu thành vi phạm một nghĩa vụ trong luật pháp quốc tế”[16]. Cần lưu ý rằng, hai nhân tố này đã được một phán quyết của toà trọng tài quốc tế khẳng định[17]. Nhân tố thứ hai (vi phạm một nghĩa vụ quốc tế) sẽ được thảo luận chi tiết hơn dưới đây khi xác định các nội dung chuyên ngành của luật quốc tế áp dụng cho lực lượng dân quân tự vệ trên biển của Trung Quốc[18]. Tuy nhiên, ở điểm này, việc tập trung vào nhân tố đầu tiên, liên quan tới vấn đề cơ bản về quy thuộc một hành động là hành động của quốc gia.

Vậy việc thực hiện hay không thực hiện hành vi nào bị coi là hành động của một quốc gia?ROSFIWA Commentary mô tả một quốc gia là “một thực thể có tổ chức, một pháp nhân có đầy đủ thẩm quyền hành động theo luật pháp quốc tế”[19]. Trên thực tế, quốc gia là một khái niệm hoàn toàn tĩnh hay nói cách khác không thể thực hiện bất kỳ “hành vi” nào[20]. Vì vậy, mọi hành vi của một quốc gia “phải có liên quan tới việc một cá nhân hay nhóm thực hiện hay không thực hiện hành vi nào đó”[21]. Dưới góc độ lý thuyết pháp luật về tổ chức, việc thực hiện hay không thực hiện hành vi của một quốc gia phải được thực hiện bởi các đại diện hoặc cơ quan của nhà nước đó. Vì vậy, câu hỏi quan trọng trong việc đánh giá thẩm quyền ở đây là “những đối tượng như thế nào được cho là hành động đại diện cho một quốc gia”?[22]

Có một số đối tượng nhất định hiển nhiên là cá nhân hành động đại diện cho một quốc gia; trong khi có những đối tượng không thể hành động đại diện cho một nhà nước. Cụ thể, hành động của các công chức hành pháp, lập pháp, tư pháp của chính phủ và thành viên lực lượng vũ trang[23] gần như chắc chắn quy về hành động của quốc gia đó. Ngược lại, khi các cá nhân thực hiện các hành vi đơn thuần cá nhân sẽ không được coi là hành động quốc gia[24]. Nhưng ở giữa hai cực này, có một vùng tương đối mù mờ, ở đó hành vi của các cá nhân hoặc các nhóm có thể hoặc không thể được quy là hành động của nhà nước, trường hợp Trung Quốc có thể được coi là nằm trong vùng này. Chúng ta có thể coi đây là vùng xám pháp lý đầu tiên liên quan tới các hoạt động do lực lượng dân quân biển của Trung Quốc thực hiện.

Để phân loại các tình huống trong các vùng xám như vậy, ROSFIWA Articles đã đề ra một số căn cứ và tiêu chí để xét một hành động là hành động của quốc gia . Một vài tiêu chí rõ ràng không thể áp dụng cho lực lượng dân quân tự vệ của Trung Quốc. Nhưng trong số đó có thể những khía cạnh thích hợp nhất định trong việc phân tích lực lượng dân quân tự vệ trên biển của Trung Quốc và các hành vi của lực lượng này. Các tiêu chí này bao gồm: (1) tiến hành bởi tổ chức nhà nước[25], (2) được tiến hành bởi cá nhân được trao thẩm quyền[26]; (3) tiến hành dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo hoặc kiểm soát của chính phủ[27] và (4) tiến hành dưới sự công nhận hoặc thông qua của nhà nước[28]. Dựa vào các sự kiện và hoàn cảnh cụ thể, việc thỏa mãn bất cứ tiêu chí nào thuộc 4 tiêu chí nêu trên, trong đó đặc biệt là 3 tiêu chí đầu tiên, đều có thể dẫn đến kết luận liệu rằng việc thực hiện hoặc không thực hiện các hành vi cụ thể của lực lượng dân quân tự vệ trên biển Trung Quốc có được quy là hành động của nhà nước này hay không. Quan trọng, các độc giả cần hiểu rằng bất kỳ hành vi nào của lực lượng dân quân biển Trung Quốc thoả mãn một trong các tiêu chí kể trên thì đều có thể quy trách nhiệm cho chính phủ nước này. Vì vậy, mỗi tiêu chí cần được xem xét một cách chi tiết hơn thông qua áp dụng các sự kiện được biết đến về lực lượng dân quân tự vệ này từ các nghiên cứu của Erickson và Kennedy.

A. Hành động được thực hiện bởimột cơ quan nhà nước

Liệu lực lượng dân quân tự vệ trên biển Trung Quốc có được coi là một cơ quan của PRC? Nội dung dưới đây của Điều 4 của các ROSFIWA Artilces có thể giúp trả lời câu hỏi này:

“Dưới góc độ luật pháp quốc tế, hành động của một cơ quan nhà nước sẽ được coi là một hành vi của quốc gia đó , bất kể trong trường hợp cơ quan đó đang tiến hành các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp hay bất kỳ chức năng nào khác, bất kể cơ quan đó đang giữ vị trí nào trong tổ chức nhà nước, và bất kể cơ quan đó thuộc chính quyền trung ương hay thuộc một đơn vị lãnh thổ bất kỳ của quốc gia đó.”

Phần bình luận của Điều 4 đã thể hiện rõ, các cơ quan nhà nước ở đây bao gồm “tất cả các thực thể cá nhân và tập thể cấu thành các tổ chức nhà nước”[29]. Vì vậy, nó sẽ bao gồm các cá nhân và thực thể thuộc tất cả các cấp độ của tổ chức nhà nước, bất kể ở cấp nhà nước, tỉnh hay địa phương[30]. Bằng việc đề cập tới cụm từ “bộ phận lãnh thổ”, các nguyên tắc được thể hiện trong điều 4 có thể áp dụng cho cả các cơ quan có bản chất “vùng hay địa phương”[31]. Thêm vào đó, điều này cũng áp dụng cho các cá nhân và thực thể từ bất kỳ nhánh hoặc đơn vị chức năng nào của các tổ chức nhà nước thực hiện một trong ba chức năng hành pháp, lập pháp hay tư pháp[32]. Lưu ý rằng, điều này không chỉ giới hạn trong các cơ quan thực hiện ba nhiệm vụ truyền thống kể trên của chính phủ mà còn “bao gồm các chức năng khác”.

Liệu các sự kiện đã biết liên quan tới lực lượng dân quân tự vệ trên biển của Trung Quốc đóng vai trò gì trong kết luận về việc lực lượng này có phải là “cơ quan nhà nước” của Trung Quốc hay không? Trên thực tế, bằng chứng rút ra từ các sự kiện kể trên là rất phức tạp, một vài trong số đó giúp chứng minh cho các lập luận kể trên ở những khía cạnh nhất định. Một mặt, các đơn vị của lực lượng dân quân tự vệ trên biển Trung Quốc không phải là “cơ quan nhà nước” do không phải được chính phủ chính thức thành lập. Thay vào đó, các công ty đánh bắt cá, như Công ty Thuỷ sản Biển Nam Trung Hoa[33], và Công ty Phát triển Thuỷ sản thành phố Tam Sa[34] mới là công ty mẹ của các đơn vị này. Thêm vào đó, trách nhiệm của các cá nhân thuộc lực lượng này mang tính “bán thời gian”, có nghĩa là “phần lớn thời gian” các cá nhân này “không mặc đồng phục mà tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh tế” (ví dụ như đánh bắt cá)[35].

Mặt khác, có lập luận lại khẳng định các lực lượng dân quân tự vệ trên biển là một cơ quan của Trung Quốc. Thứ nhất, Hiến pháp, luật pháp và sách trắng của Trung Quốc đều công nhận sự tồn tại của lực lượng dân quân tự vệ trong hệ thống chính phủ của mình. Điều 55, Chương II Hiến pháp Trung Quốc, văn bản đề ra các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân PRC, chỉ rõ:

Nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người dân nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là bảo vệ quê hương và chống lại các hành vi xâm lấn. Việc tham gia nghĩa vụ quân sự và tham gia vào lực lượng dân quân tự vệ theo đúng quy định của pháp luật là nghĩa vụ vinh dự của công dân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa[36].

Thực hiện điều khoản này của Hiến pháp[37], Luật Quân dịch Trung Quốc (MSL) nêu rõ, “Các lực lựơng quân sự của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa cấu thành nên Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Lực lượng Cảnh sát vũ trang Trung Quốc và lực lượng dân quân tự vệ”[38]. Chương 4 của Luật này mô tả chi tiết hơn về lực lượng dân quân tự vệ, bao gồm bản chất[39], nhiệm vụ[40] và cách thức thành lập của các đơn vị trực thuộc lực lượng này[41]. Và Sách Trắng Quốc phòng năm 2013 của Trung Quốc cũng nêu rõ “hệ thống dân quân tự vệ” thực hiện nhiệm vụ “như là một lực lược hỗ trợ và trợ giúp Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc”[42]. Thứ hai, mặc dù các thực thể thành lập các đơn vị dân quân tự vệ trên biển là các công ty đánh bắt cá, các công ty này đều là các doanh nghiệp nhà nước (SOEs)[43]. Chi tiết này sẽ khiến cho các phân tích sâu hơn trở nên tương đối phức tạp do bản chất phức tạp của hệ thống kinh tế Trung Quốc. Điều 37 Luật Quân dịch Trung Quốc công nhận rằng các đơn vị dân quân tự vệ có thể được thành lập bởi cả các chính quyền địa phương lẫn các “doanh nghiệp và tổ chức”[44]. Đồng thời, Erickson và Kennedy lưu ý rằng có một số các chi tiết nhất định liên quan tới chính sách hỗ trợ dành cho các thành viên của lực lượng dân quân tự vệ đã gợi ý rằng “các công ty mẹ nên là tổ chức đi đầu thay vì các doanh nghiệp thương mại”[45].

B. Hành động được thực hiện theo uỷ quyền của nhà nước

Nếu trong trường hợp giả định lực lượng dân quân tự vệ trên biển Trung Quốc không phải là một “cơ quan” thuộc PRC là đúng, thì liệu lực lượng này có cần phải hoạt động theo đúng luật pháp PRC hay không? Về điều này, điều 5 ROSFIWA Articles đã chỉ rõ:

Hành vi của một cá nhân hoặc một thực thể không phải là cơ quan nhà nước dưới điều 4 nhưng được luật pháp nước đó trao quyền đề thực hiện các hành vi thuộc thẩm quyền của chính phủ sẽ được coi là hành động của Nhà nước đó dưới góc độ luật pháp quốc tế, trong điều kiện cá nhân hoặc thực thể nêu trên đang thực hiện nhiệm vụ trong đúng trường hợp được giao.

Vì vậy, một cá nhân hoặc thực thể không phải là cơ quan nhà nước vẫn có thể thực hiện các hành vi đại diện cho Nhà nước nếu luật pháp của nước đó trao quyền đại diện cho thực thể hoặc cá nhân này. Bình luận đi kèm điều 5 đã giải thích hiện tượng này như sau: điều này “tính cả đến các hiện tượng xuất hiện ngày càng nhiều các thực thể nửa quốc doanh, các đơn vị thực hiện một số nội dung thuộc thẩm quyền nhà nước thay thế cho các cơ quan nhà nước…”[46]. Việc sử dụng thuật ngữ “thực thể” nhằm mục đích bao hàm “tập hợp nhiều đơn vị, mặc dù không phải là cơ quan, xong vẫn được luật pháp của nước đó trao quyền”[47]. Các thực thể này có thể bao gồm “các tập đoàn công, các thực thể bán công, các công ty công thuộc nhiều hình thức và thậm chí trong một số trường hợp đặc biệt, là các công ty tư nhân”. Ví dụ, Bình luận đi kèm theo Điều 5 có thảo luận trường hợp các xí nghiệp an ninh tư nhân thực hiện nhiệm vụ quản giáo và các hãng hàng không tư nhân được giao các nhiệm vụ liên quan tới vấn đề nhập cư hoặc kiểm dịch[48]. Khi nguyên tắc này được áp dụng vào “các thực thể bán quốc doanh”, vấn đề căn bản ở đây là liệu rằng nội luật của các nhà nước có “tính tới các thực thể này khi trả lời câu hỏi về việc thi thành một số nội dung nhất định của thẩm quyền nhà nước hay không”[49]. Để hành vi của một thực thể cấu thành thành một hành vi nhà nước, hành vi đó cần phải “liên quan tới các hoạt động của chính phủ chứ không phải các hoạt động cá nhân hay thương mại”[50]. Bài bình luận này sau đó đã làm rõ “thẩm quyền nhà nước” phụ thuộc vào “xã hội cụ thể, cũng như lịch sử và truyền thống của xã hội đó”. Các nhân tố cần thiết để xem xét các bao gồm: Nội dung trao quyền, cách thức các quyền đó được trao cho các thực thể, mục đích cho việc thực thi các quyền này và mức độ mà các thực thể phải báo cáo với chính phủ về hành động của họ[51].

….

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Jonathan G. Odom, Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á Thái Bình Dương, Đại học Honolulu, Mỹ. Bài viết được đăng trên Asia-Pacific Journal of Ocean Law and Policy Số 3 năm 2018.

Lê Hà, Thùy Anh, Ngọc Diệp (dịch)

Trần Quang (hiệu đính)